Trí tuệ Cảm xúc Bốn Chiều kích
Wong, C. S. & Law, K. S. · 2002
Còn được gọi là: Wong and Law EI model · Mayer and Salovey four-branch model
Mô hình này coi trí tuệ cảm xúc như bốn năng lực cảm xúc có liên quan, được rút ra từ khung năng lực gốc của Salovey và Mayer nhưng được đo lường như nhận thức về bản thân: thẩm định cảm xúc của chính mình, thẩm định cảm xúc của người khác, sử dụng cảm xúc để hỗ trợ hiệu suất, và điều tiết cảm xúc. Vì định dạng đánh giá là tự báo cáo chứ không phải hiệu suất thực hiện, những gì được đo lường là niềm tin về năng lực cảm xúc mang tính đặc điểm, tức mức độ một người tin rằng bản thân có năng lực về mặt cảm xúc, đây là một cấu trúc hợp lệ nhưng không giống với năng lực cảm xúc đã được chứng minh qua thực hiện.
Mô hình trí tuệ cảm xúc như một tập hợp các năng lực cảm xúc có liên quan với nhau (Salovey & Mayer, 1990; Mayer & Salovey, 1997), được vận hành hóa để tự báo cáo bởi Wong và Law (2002) theo bốn chiều kích: thẩm định và biểu đạt cảm xúc của chính mình, thẩm định và nhận biết cảm xúc ở người khác, sử dụng cảm xúc để hỗ trợ hiệu suất, và điều tiết cảm xúc ở bản thân. Bốn chiều kích này khác biệt nhưng có liên quan với nhau, tải lên một nhân tố bậc hai, và ở đây được đo lường như kỹ năng tự báo cáo chứ không phải như hiệu suất thực hiện: một bản tự báo cáo phản ánh cách một người nhìn nhận chức năng cảm xúc của chính mình, đây là một câu hỏi khác với những gì một bài trắc nghiệm năng lực như MSCEIT chấm điểm dựa trên các tiêu chí.
- Nguồn:
- Wong, C.-S., & Law, K. S. (2002). The effects of leader and follower emotional intelligence on performance and attitude: An exploratory study. The Leadership Quarterly, 13(3), 243-274. Mayer, J. D., & Salovey, P. (1997). What is emotional intelligence? Salovey, P., & Mayer, J. D. (1990). Emotional intelligence. Imagination, Cognition and Personality, 9(3), 185-211.
Làm một bài trắc nghiệm được xác thực dựa trên lý thuyết này
Đọc về một cấu trúc cho bạn biết nó là gì. Một công cụ đo được xác thực cho bạn biết bạn đang ở đâu trên đó. Làm miễn phí, có kết quả trong vài phút.
Bằng chứng tổng quan
- Minh chứng thực nghiệm
- Bằng chứng trung bình
- Khả năng tái lập
- Đã được tái lập tốt
- Đa văn hóa
- Phần lớn phổ quát
- Các phân tích tổng hợp
- 16 mục
Những đánh giá này tóm tắt tài liệu nghiên cứu đã công bố về lý thuyết, không phải chất lượng của bất kỳ bài trắc nghiệm cụ thể nào dựa trên lý thuyết đó. Đây là các nhận định biên tập dựa trên các nguồn được liệt kê dưới đây, và có thể thay đổi khi có thêm bằng chứng mới.
Bối Cảnh Lịch Sử
Salovey và Mayer định nghĩa trí tuệ cảm xúc như một năng lực vào năm 1990, với ý định là nó sẽ được đo lường bằng các bài trắc nghiệm hiệu suất có đáp án đúng, và cuốn sách phổ biến năm 1995 của Goleman sau đó đã tách thuật ngữ này khỏi định nghĩa nói trên và gắn nó với một tập hợp rộng các đặc điểm và năng lực. Hai truyền thống đo lường đã trở nên vững chắc: đo lường năng lực, tiêu biểu là MSCEIT, và đo lường đặc điểm bằng tự báo cáo. Thang đo năm 2002 của Wong và Law, được phát triển cho nghiên cứu lãnh đạo và tổ chức, đã trở thành công cụ tự báo cáo ngắn được sử dụng nhiều nhất trong lĩnh vực này, và công trình song song của Petrides và Furnham đã xác lập trí tuệ cảm xúc đặc điểm như một cấu trúc riêng biệt về mặt hình thức, nằm trong không gian nhân cách chứ không phải không gian năng lực nhận thức.
Cấu trúc
Đánh Giá Cảm Xúc Bản Thân
The ability to perceive, understand and express one's own emotions (Mayer & Salovey, 1997; Wong & Law, 2002): noticing a feeling while it is happening and being able to tell one state from another. The other three dimensions build on it, because a feeling has to be noticed before it can be used or steadied.
Đánh giá Cảm xúc của Người khác
The ability to perceive and understand the emotions of the people around you (Mayer & Salovey, 1997; Wong & Law, 2002): catching tone shifts, silences, and the gap between what someone says and what their face is doing. Distinct from caring about those emotions, which is what an empathy measure reads.
Sử Dụng Cảm Xúc
The ability to direct emotion toward constructive activity and personal performance (Mayer & Salovey, 1997; Wong & Law, 2002): turning enthusiasm into a started task, frustration into another attempt, pressure into focus. The least discussed of the four dimensions and the most visible in what actually gets done.
Điều Chỉnh Cảm Xúc
The ability to regulate one's own emotions, recovering quickly from psychological distress (Mayer & Salovey, 1997; Wong & Law, 2002). Not suppression: steady people still feel the spike, they get their hands back on the wheel sooner. Of the four dimensions, the one that responds most directly to practice.
Công cụ
- Thang đo NOESIS về Trí Tuệ Cảm Xúc (Emotional Intelligence Scale)NOESIS2026
Các bài trắc nghiệm được xây dựng dựa trên lý thuyết này
Ứng Dụng Thực Tiễn
Trí tuệ cảm xúc tự báo cáo dự báo sự hài lòng công việc, hành vi công dân tổ chức, sự nổi lên của vai trò lãnh đạo và hiệu suất nhóm trong nghiên cứu tổ chức, với các hiệu ứng phân tích tổng hợp khiêm tốn nhưng nhất quán. Nó được sử dụng trong phát triển lãnh đạo và huấn luyện, nơi mà nhận thức về bản thân tự nó là mục tiêu hữu ích vì đó là điều mà con người dựa vào để hành động. Đối với sự tự nhận thức, cách phân chia bốn khía cạnh mang tính thông tin: đọc cảm xúc của chính mình, đọc cảm xúc của người khác, sử dụng cảm xúc và điều tiết cảm xúc là những kỹ năng tách biệt hiếm khi phát triển đồng đều.
Cách Đo Lường
Được đo lường bằng một thang đo Likert tự báo cáo ngắn (WLEIS: 16 câu hỏi) cho ra bốn điểm số khía cạnh và một điểm tổng; điểm số mô tả nhận thức về cảm xúc của bản thân, không phải năng lực cảm xúc đã được kiểm tra.
Phê Bình & Hạn Chế
Chỉ trích chủ đạo là sự dư thừa cấu trúc. Phân tích tổng hợp của Joseph và Newman cùng công trình trước đó của Van Rooy và Viswesvaran cho thấy trí tuệ cảm xúc tự báo cáo trùng lặp đáng kể với Mô hình Năm Yếu tố, đặc biệt là sự ổn định cảm xúc, hướng ngoại và tận tâm, và chỉ đóng góp thêm rất ít độ hiệu lực gia tăng khi các yếu tố đó cùng với năng lực nhận thức đã được kiểm soát. Tự báo cáo cũng không thể phát hiện được người có nhận thức về cảm xúc của chính mình không chính xác, đây có thể lại là nhóm có mối quan tâm thực tiễn lớn nhất. Thị trường thương mại xung quanh trí tuệ cảm xúc còn khuyến khích thêm những tuyên bố thổi phồng mà bằng chứng được bình duyệt không ủng hộ.
Ấn Phẩm Tiêu Biểu
- Wong, C. S. & Law, K. S.. (2002). The effects of leader and follower emotional intelligence on performance and attitude: An exploratory study. 10.1016/S1048-9843(02)00099-1
- Salovey, P. & Mayer, J. D.. (1990). Emotional intelligence. 10.2190/DUGG-P24E-52WK-6CDG
- Joseph, D. L. & Newman, D. A.. (2010). Emotional intelligence: An integrative meta-analysis and cascading model. 10.1037/a0017286