Khung Sàng lọc Lâm sàng PRIME-MD / PHQ
Spitzer, R. L., Kroenke, K. & Williams, J. B. W. · 1999
Còn được gọi là: PRIME-MD · PHQ Framework
Nhóm công cụ PHQ bắt nguồn từ Primary Care Evaluation of Mental Disorders và áp dụng một nguyên tắc thiết kế duy nhất: gắn trực tiếp mỗi câu hỏi trong bảng câu hỏi với một tiêu chí chẩn đoán, để một người không chuyên có thể thực hiện và một kết quả sàng lọc dương tính chỉ đến một bước theo dõi cụ thể chứ không phải một sự lo ngại chung. PHQ-9 bao quát chín tiêu chí DSM cho giai đoạn trầm cảm chủ yếu trong hai tuần gần nhất; PHQ-2 là giai đoạn đầu gồm hai câu hỏi của nó; PHQ-15 bao quát gánh nặng triệu chứng cơ thể. Đây là các công cụ sàng lọc có độ nhạy và độ đặc hiệu đã được công bố, chúng xác định ai cần được đánh giá, và chúng không chẩn đoán.
Khung sàng lọc lâm sàng bắt nguồn từ Primary Care Evaluation of Mental Disorders (PRIME-MD). Chuyển hóa các tiêu chí chẩn đoán DSM-IV thành các công cụ sàng lọc tự báo cáo ngắn cho trầm cảm (PHQ-9/PHQ-2), lo âu (GAD-7), triệu chứng cơ thể hóa (PHQ-15), và các tình trạng khác. Không phải là hệ thống chẩn đoán, mà được thiết kế để xác định các trường hợp có khả năng cần theo dõi lâm sàng tiếp theo.
- Nguồn:
- Spitzer, R. L., Kroenke, K., & Williams, J. B. W. (1999). Validation and utility of a self-report version of PRIME-MD: the PHQ primary care study. JAMA, 282(18), 1737-1744.
Làm một bài trắc nghiệm được xác thực dựa trên lý thuyết này
Đọc về một cấu trúc cho bạn biết nó là gì. Một công cụ đo được xác thực cho bạn biết bạn đang ở đâu trên đó. Làm miễn phí, có kết quả trong vài phút.
Bằng chứng tổng quan
- Minh chứng thực nghiệm
- Bằng chứng mạnh
- Khả năng tái lập
- Đã được tái lập tốt
- Đa văn hóa
- Phần lớn phổ quát
- Các phân tích tổng hợp
- 30 mục
Những đánh giá này tóm tắt tài liệu nghiên cứu đã công bố về lý thuyết, không phải chất lượng của bất kỳ bài trắc nghiệm cụ thể nào dựa trên lý thuyết đó. Đây là các nhận định biên tập dựa trên các nguồn được liệt kê dưới đây, và có thể thay đổi khi có thêm bằng chứng mới.
Bối Cảnh Lịch Sử
PRIME-MD, được Spitzer và các đồng nghiệp công bố năm 1994, là một công cụ do bác sĩ lâm sàng thực hiện, được thiết kế để đưa việc đánh giá tâm thần có cấu trúc vào thực hành y tế đa khoa, nhưng lại mất quá nhiều thời gian để sử dụng thường quy. Patient Health Questionnaire tự thực hiện năm 1999 chính là câu trả lời cho vấn đề đó, và nghiên cứu xác nhận PHQ-9 năm 2001 của Kroenke, Spitzer và Williams đã khiến nó trở thành công cụ sàng lọc trầm cảm được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Việc áp dụng nó được thúc đẩy nhanh hơn nhờ không mất phí cấp phép, và hiện nay nó là nền tảng cho các mô hình chăm sóc dựa trên đo lường và chăm sóc phối hợp trong nhiều hệ thống y tế.
Cấu trúc
Mức Độ Nghiêm Trọng Của Trầm Cảm
As operationalized in the PHQ-9 and PHQ-2 (Kroenke, Spitzer & Williams, 2001), depression severity is assessed by the frequency of the nine cardinal symptoms of Major Depressive Disorder specified in DSM-IV: anhedonia, depressed mood, sleep disturbance, fatigue, appetite change, guilt/worthlessness, concentration difficulty, psychomotor change, and suicidal ideation. Scores index symptom burden rather than categorical diagnosis.
Mức độ Nghiêm trọng của Lo âu Tổng quát
As operationalized in the GAD-7 (Spitzer, Kroenke, Williams & Löwe, 2006), anxiety severity is assessed by the frequency of seven core symptoms of Generalized Anxiety Disorder specified in DSM-IV: nervousness, uncontrollable worry, excessive worry, restlessness, difficulty relaxing, irritability, and fearfulness.
Mức độ Nghiêm trọng của Triệu chứng Cơ thể
As operationalized in the PHQ-15 (Kroenke, Spitzer & Williams, 2002), somatic symptom severity is assessed by the frequency and bothersomeness of 15 common physical symptoms (headaches, pain, gastrointestinal, cardiovascular, etc.) that account for more than half of all outpatient visits and are often associated with functional impairment.
Công cụ
- Thang đo Rối loạn Lo âu Lan tỏa 7 câu(GAD-7)Spitzer, R. L., Kroenke, K., Williams, J. B. W., & Löwe, B.2006
- Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân, 15 câu (Mức độ Nghiêm trọng Triệu chứng Cơ thể)(PHQ-15)Kroenke, K., Spitzer, R. L., & Williams, J. B. W.2002
- Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân - 2 câu hỏi(PHQ-2)Kroenke, K., Spitzer, R. L., & Williams, J. B. W.2003
- Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân, 9 câu(PHQ-9)Kroenke, K., Spitzer, R. L., & Williams, J. B. W.2001
Các bài trắc nghiệm được xây dựng dựa trên lý thuyết này
GAD-7: Thang Đo Rối Loạn Lo Âu Lan Tỏa
Công cụ sàng lọc mức độ nghiêm trọng lo âu gồm 7 câu hỏi cho rối loạn lo âu lan tỏa.
Tìm hiểu thêm →PHQ-15: Thang đo Mức độ Nghiêm trọng của Triệu chứng Cơ thể
Sàng lọc mức độ nghiêm trọng của triệu chứng cơ thể gồm 15 câu hỏi cho các than phiền thể chất liên quan đến căng thẳng.
Tìm hiểu thêm →PHQ-9: Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân (Trầm cảm)
Công cụ sàng lọc mức độ nghiêm trọng trầm cảm gồm 9 câu hỏi, dựa trên tiêu chuẩn DSM.
Tìm hiểu thêm →PHQ-2: Công cụ sàng lọc trầm cảm siêu ngắn
Sàng lọc trầm cảm siêu ngắn gồm 2 câu hỏi về tâm trạng trầm cảm và mất hứng thú.
Tìm hiểu thêm →Ứng Dụng Thực Tiễn
PHQ-9 được sử dụng để sàng lọc trầm cảm trong y tế đa khoa, để phân loại mức độ nghiêm trọng, và để theo dõi đáp ứng điều trị theo thời gian, đây là công năng có giá trị nhất nhưng lại ít được đánh giá đúng mức nhất của nó. PHQ-2 đóng vai trò là bộ lọc giai đoạn đầu trong các cơ sở có lưu lượng bệnh nhân cao. Các dải điểm số tương ứng với các nhóm mức độ nghiêm trọng, làm cơ sở cho các quyết định chăm sóc theo từng bước. Ngoài môi trường lâm sàng, cách sử dụng phù hợp hoàn toàn mang tính tự tham chiếu: một điểm số cho biết liệu có cần trao đổi với chuyên gia lâm sàng hay không, và bản thân nó không mang ý nghĩa chẩn đoán.
Cách Đo Lường
Các câu hỏi về tần suất triệu chứng tự báo cáo trong khoảng thời gian hai tuần, được cộng lại thành một tổng điểm với các dải mức độ nghiêm trọng đã công bố; độ nhạy và độ đặc hiệu phụ thuộc vào ngưỡng cắt và phụ thuộc vào nhóm dân số.
Phê Bình & Hạn Chế
Ngưỡng cắt thông thường là 10 được xác lập trong các nhóm dân số có tỷ lệ trầm cảm tương đối cao; khi áp dụng cho sàng lọc đại trà ở những môi trường có tỷ lệ thấp, nó tạo ra đa số các trường hợp dương tính giả, đây chính là luận điểm cốt lõi chống lại việc sàng lọc không có mục tiêu. Phân tích tổng hợp dữ liệu cấp cá nhân của Levis và các đồng nghiệp cho thấy các ước tính dựa trên ngưỡng cắt trong tài liệu đã bị đánh giá cao một cách có hệ thống do báo cáo chọn lọc. Các câu hỏi về triệu chứng cơ thể trùng lặp với bệnh lý thực thể, làm tăng điểm số ở những nhóm dân số mắc bệnh y khoa. PHQ-9 cũng nén chín triệu chứng không đồng nhất thành một con số duy nhất, vì vậy các tổng điểm giống nhau có thể mô tả những bức tranh lâm sàng rất khác nhau.
Ấn Phẩm Tiêu Biểu
- Spitzer, R. L., Kroenke, K. & Williams, J. B. W.. (1999). Validation and utility of a self-report version of PRIME-MD: The PHQ Primary Care Study. 10.1001/jama.282.18.1737
- Kroenke, K., Spitzer, R. L. & Williams, J. B. W.. (2001). The PHQ-9: Validity of a brief depression severity measure. 10.1046/j.1525-1497.2001.016009606.x
- Levis, B., Benedetti, A. & Thombs, B. D.. (2019). Accuracy of the PHQ-9 for screening to detect major depression: Individual participant data meta-analysis. 10.1136/bmj.l1476