Triệu chứng học Trầm cảm Dịch tễ học
Radloff, L. S. · 1977
Còn được gọi là: CES-D framework · Depressive Symptomatology
Khung này đo lường triệu chứng trầm cảm hiện tại trong dân số nói chung hơn là trong các mẫu lâm sàng, điều này định hình mọi quyết định thiết kế đằng sau nó. Các câu hỏi nhấn mạnh trải nghiệm cảm xúc và giữa cá nhân hơn là các triệu chứng thực vật và cơ thể vốn chi phối các công cụ lâm sàng, bởi vì trong các mẫu cộng đồng, các câu hỏi liên quan đến cơ thể thường bắt được bệnh lý thể chất. Khung thời gian tham chiếu là tuần vừa qua, khiến nó trở thành một thước đo trạng thái. Các câu hỏi diễn đạt tích cực được đưa vào đặc biệt để phá vỡ khuôn mẫu phản hồi. Kết quả đầu ra là điểm số gánh nặng triệu chứng để mô tả dân số, không phải để xác định ca bệnh.
Khung đo lường triệu chứng trầm cảm hiện tại trong dân số nói chung, được phát triển tại Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học của NIMH (Radloff, 1977). Trầm cảm được thao tác hóa như tần suất triệu chứng trong một tuần duy nhất, nhấn mạnh thành phần cảm xúc (tâm trạng chán nản) hơn là một chẩn đoán lâm sàng: các câu hỏi được chọn từ các thang đo đã được kiểm chứng trước đó để bao quát các thành phần triệu chứng chính, bao gồm cả việc đo lường có chủ đích cảm xúc tích cực, mà sự thiếu vắng của nó là một phần của trầm cảm mà các danh sách triệu chứng thuần túy bỏ sót. Trạng thái được đo lường được kỳ vọng sẽ thay đổi theo các sự kiện đời sống; điểm số được đọc dựa trên các ngưỡng cắt sàng lọc đã công bố, không bao giờ được xem như các nhóm chẩn đoán.
- Nguồn:
- Radloff, L. S. (1977). The CES-D Scale: A Self-Report Depression Scale for Research in the General Population. Applied Psychological Measurement, 1(3), 385-401.
Làm một bài trắc nghiệm được xác thực dựa trên lý thuyết này
Đọc về một cấu trúc cho bạn biết nó là gì. Một công cụ đo được xác thực cho bạn biết bạn đang ở đâu trên đó. Làm miễn phí, có kết quả trong vài phút.
Bằng chứng tổng quan
- Minh chứng thực nghiệm
- Bằng chứng mạnh
- Khả năng tái lập
- Đã được tái lập tốt
- Đa văn hóa
- Phần lớn phổ quát
- Các phân tích tổng hợp
- 18 mục
Những đánh giá này tóm tắt tài liệu nghiên cứu đã công bố về lý thuyết, không phải chất lượng của bất kỳ bài trắc nghiệm cụ thể nào dựa trên lý thuyết đó. Đây là các nhận định biên tập dựa trên các nguồn được liệt kê dưới đây, và có thể thay đổi khi có thêm bằng chứng mới.
Bối Cảnh Lịch Sử
Radloff đã phát triển Thang đo Trầm cảm của Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 1977, tập hợp các câu hỏi từ các thang đo lâm sàng hiện có nhưng lựa chọn cho mục đích sử dụng ở cấp độ dân số hơn là lâm sàng. Nó trở thành công cụ tiêu chuẩn trong các nghiên cứu đoàn hệ dịch tễ học lớn và các nghiên cứu về lão hóa, với các phiên bản 20 câu và 10 câu. Eaton và các cộng sự đã công bố một phiên bản sửa đổi vào năm 2004 để điều chỉnh các câu hỏi phù hợp với tiêu chí DSM hiện đại. Tuổi thọ của thang đo này đồng nghĩa với việc đã có nhiều thập kỷ dữ liệu dân số có thể so sánh được, đây là lý do các nghiên cứu đoàn hệ tiếp tục sử dụng nó dù đã có các lựa chọn mới hơn.
Cấu trúc
Triệu Chứng Trầm Cảm
Current depressive symptomatology as frequency of symptoms over the past week (Radloff, 1977): depressed mood, feelings of guilt and worthlessness, helplessness and hopelessness, psychomotor retardation, loss of appetite, and sleep disturbance, with the deliberate inclusion of positive affect whose absence is part of depression that pure symptom lists miss. A state expected to move with life events, read against published screening cutoffs — never a diagnosis.
Cảm Xúc Trầm Buồn
The first of Radloff's four CES-D factors (1977, p. 397): the core dysphoric mood — feeling sad, depressed, lonely, fearful, and unable to shake off the blues. Descriptive grouping for report prose; not a scored scale.
Cảm Xúc Tích Cực
The second of Radloff's four CES-D factors (1977, p. 397): the presence or absence of positive feeling — feeling as good as other people, hopeful, happy, enjoying life. Measured through reverse-keyed items so that rarely feeling happy raises the score the same way often feeling sad does. Descriptive grouping for report prose; not a scored scale.
Hoạt Động Cơ Thể Và Trì Trệ
The third of Radloff's four CES-D factors (1977, p. 397): the bodily and psychomotor side of depression — being bothered by things, poor appetite, effort in everything, restless sleep, trouble concentrating, inability to get going. Descriptive grouping for report prose; not a scored scale.
Khó khăn trong quan hệ liên cá nhân
The fourth of Radloff's four CES-D factors (1977, p. 397): the social perception component — feeling that people were unfriendly or disliked you. Descriptive grouping for report prose; not a scored scale.
Công cụ
- Thang đo Trầm cảm của Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học(CES-D)Radloff, L. S.1977
Các bài trắc nghiệm được xây dựng dựa trên lý thuyết này
Ứng Dụng Thực Tiễn
Thang đo này là công cụ chủ lực trong giám sát sức khỏe tâm thần dân số, được dùng để ước tính tỷ lệ lưu hành triệu chứng, theo dõi xu hướng theo thời gian, và so sánh các nhóm nhỏ trong các nghiên cứu đoàn hệ lớn về lão hóa, việc làm và các yếu tố xã hội quyết định. Trong nghiên cứu, nó đóng vai trò là một kết quả liên tục trong các thử nghiệm can thiệp, nơi mà một chẩn đoán lâm sàng sẽ quá thô. Đối với cá nhân, khung thời gian một tuần khiến nó trở thành một bức ảnh chụp nhanh của một giai đoạn gần đây, hữu ích để nhận ra sự thay đổi, nhưng vô nghĩa khi dùng như một nhãn dán.
Cách Đo Lường
Các câu hỏi tự báo cáo về tần suất triệu chứng trong tuần vừa qua, được tổng hợp với các câu hỏi tích cực được tính điểm ngược; được diễn giải như một điểm số gánh nặng triệu chứng liên tục so với chuẩn dân số hơn là để xác định ca bệnh.
Phê Bình & Hạn Chế
Ngưỡng cắt thông thường là 16 có độ đặc hiệu kém khi so với các cuộc phỏng vấn chẩn đoán, xác định quá mức các trường hợp với biên độ lớn, và công cụ này chưa bao giờ được thiết kế để phát hiện ca bệnh dù thường xuyên được dùng theo cách đó. Cấu trúc bốn nhân tố (cảm xúc chán nản, cảm xúc tích cực, cơ thể, giữa cá nhân) không ổn định giữa các nền văn hóa, và các câu hỏi diễn đạt ngược về cảm xúc tích cực đặc biệt hoạt động khác nhau giữa các nhóm ngôn ngữ, gây phức tạp cho việc so sánh xuyên quốc gia. Các câu hỏi liên quan đến cơ thể vẫn làm tăng điểm số ở người trả lời cao tuổi và có bệnh lý, chính là những nhóm dân số mà thang đo này được sử dụng nhiều nhất.
Ấn Phẩm Tiêu Biểu
- Radloff, L. S.. (1977). The CES-D Scale: A self-report depression scale for research in the general population. 10.1177/014662167700100306
- Eaton, W. W., Smith, C., Ybarra, M., Muntaner, C. & Tien, A.. (2004). Center for Epidemiologic Studies Depression Scale: Review and revision (CESD and CESD-R).
- Andresen, E. M., Malmgren, J. A., Carter, W. B. & Patrick, D. L.. (1994). Screening for depression in well older adults: Evaluation of a short form of the CES-D.